Đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường Đại học Ngân hàng TP. HCM trong giai đoạn hiện nay

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HCM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

PGS. TS. Lý Hoàng Ánh
TS. Trần Mai Ước

   Thực tiễn đã chứng minh rằng, phương thức đào tạo theo tín chỉ không chỉ có hiệu quả đối với các nước phát triển mà còn rất hiệu quả đối với các nước đang phát triển. Với triết lý ”Tôn trọng người học, xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo”, đặc điểm này buộc người dạy phải sử dụng phương pháp giảng dạy sao cho phát huy được tính chủ động của người học, giúp người học biết cách học để tự học. Để thích ứng những thay đổi này, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo thì việc chú trọng tăng cường đổi mới phương pháp giảng dạy theo học chế tín chỉ tại Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM trong giai đoạn hiện nay là điều mang tính cấp thiết.  
   1. Dẫn nhập
   Thực tiễn trong 27 năm qua đã chứng minh rằng, trong quá trình đổi mới và hội nhập, giáo dục - đào tạo có vị trí quan trọng, góp đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Hiện nay, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tiến hành trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng cao trong khi chất lượng đào tạo của nhà trường các cấp còn nhiều bất cập đã và đang thực sự trở thành một thách thức, “nút thắt” to lớn cần có lời giải đáp. Để góp phần thực hiện thắng lợi thực hiện chỉ thị của Chính phủ, chương trình hành động của Bộ Giáo dục & Đào tạo về “đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ”. Trong giai đoạn hiện nay, việc đổi mới phương pháp giảng dạy (PPGD) là nhân tố quan trọng góp phần tạo nên chất lượng đào tạo của các trường đại học. Vị thế, uy tín, “giá trị lõi” của mỗi nhà trường xét cho đến cùng là chất lượng đào tạo của chính bản thân các trường. Vì vậy, vấn đề đổi mới PPGD tại các trường Đại học nói chung và Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM (ĐHNH TP. HCM) nói riêng là một tất yếu khách quan và đang trở thành vấn đề vừa mang tính thời sự cấp bách, lại vừa mang tính cơ bản lâu dài, nhất là trong bối cảnh hiện nay. 
   2. Nội dung
   2.1. Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM với việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo học chế tín chỉ.
   Trường ĐHNH TP.HCM nguyên là Trường Cao cấp Nghiệp vụ Ngân hàng – cơ sở II, được thành lập ngày 16/12/1976, đặt tại thành phố Hồ Chí Minh là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho Hệ thống Ngân hàng và các Định chế tài chính khác. Ngày 03/05/1980 Thủ tướng Chính phủ cho phép Trường đào tạo đại học hệ chính qui tập trung chuyên ngành ngân hàng tạo thành phố Hồ Chí Minh. Theo quyết định 169/NH-QĐ ngày 29/11/1986 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trường mang tên Trường Cao cấp nghiệp vụ Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh. Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 1997, trường mang tên là Trung tâm Đào tạo và nghiên cứu khoa học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 09/02/01998, theo Quyết định số 30/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trường mang tên Học viện Ngân hàng – Phân viện thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 20/08/2003 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 174/2003/QĐ-TTg thành lập Trường ĐHNH TP. HCM. Thời kỳ mới, với nhiều khó khăn và thách thức mới, thực hiện mục tiêu chung là xây dựng trường ĐHNH TP. HCM trở thành trường đại học có uy tín trong lĩnh vực đào tạo, nhằm tạo ra đội ngũ nhân sự đa trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học cho ngành ngân hàng và các ngành trong nền kinh tế, có chất lượng cao, góp phần thiết thực cho đường lối đổi mới kinh tế nói chung và đổi mới giáo dục . Xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy và quản lý có chuyên môn cao, có năng lực nghiên cứu khoa học, đảm bảo cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại phục vụ mọi hoạt động của trường, các chương trình đào tạo bắt kịp trình độ giáo dục đại học trong khu vực và tiếp cận xu thế phát triển giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới, có năng lực cạnh tranh cao và thích ứng hội nhập toàn cầu, bên cạnh các mục tiêu đó thì nhà trường còn có một mục tiêu rất quan trọng và đây cũng chính là mục tiêu quan trọng của nền giáo dục Việt Nam, đó chính là giáo dục nhân cách, giáo dục làm người. Với quá trình 37 năm hình thành và phát triển, Trường ĐHNH TP. HCM đã góp phần đào tạo cho xã hội nguồn nhân lực cho ngành ngân hàng và các ngành trong nền kinh tế, có chất lượng cao, phẩm chất đạo đức tốt được xã hội ghi nhận.
   Trong bối cảnh mới, đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đang là vấn đề quan tâm của Đảng và Nhà nước. Mới đây, tại Đại hội XI của Đảng cũng đã nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học”  là một trong những giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Quán triệt quan điểm chỉ đạo đường lối, chủ tương của Đảng và nhà nước, trong thời gian qua Trường ĐHNH TP. HCM đã tiến hành nghiên cứu và ứng dụng đổi mới phương pháp dạy - học vào việc đào tạo, bồi dưỡng người học, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả trong phát triển nguồn nhân lực đáp ứng với bối cảnh đổi mới và hội nhập như hiện nay. Qua thực tiễn giảng dạy, chúng tôi nhận thấy tình trạng áp dụng các phương pháp truyền thống còn khá phổ biến, vẫn là tình trạng “đọc – chép”, giảng viên truyền thụ kiến thức bằng độc thoại, phương pháp học của người học rất thụ động. Một số giảng viên chịu khó đầu tư, mày mò sử dụng các phương pháp mới nhờ sử dụng công cụ hỗ trợ mà ở đây là áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, nhưng nhìn chung vẫn còn tồn tại tình trạng “chiếu - chép”. Suy nghĩ khá phổ biến hiện nay trong người học vẫn coi giảng viên là nguồn tri thức, người truyền thông tin, còn người học chỉ là người nhận thông tin. Vì thế hầu hết thời gian của một tiết học chủ yếu dành cho giảng viên thuyết trình, còn người học rất ít có cơ hội tham gia vào quá trình dạy học như phát biểu, trình bày ý kiến và bày tỏ quan điểm của mình. Trong không gian giáo dục mở như hiện nay, đây là vấn đề rất đáng để chúng ta suy nghẫm.
   Đề cập đến phương pháp giảng dạy, chúng ta phải thừa nhận rằng đây là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ. Phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố chủ yếu đưa đến kết quả thiết thực của việc đào tạo, bồi dưỡng, từ đó mới xây dựng được một đội ngũ cán bộ, giảng viên có trình độ năng lực thực sự, có phẩm chất đạo đức tốt để phục vụ Nhà nước, phục vụ nhân dân. Do vậy, yêu cầu của phương pháp giảng dạy cho sinh viên theo học chế tín chỉ là phải áp dụng phương pháp đào tạo bồi dưỡng tích cực, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và tư duy sáng tạo của người học; tăng cường hoạt động đối thoại trao đổi thông tin, kiến thức và kinh nghiệm giảng viên với người học và giữa người học với nhau. 
   Đổi mới phương pháp giảng dạy tại Trường ĐHNH TP. HCM hiện nay theo phương pháp dạy học tích cực cần chú trọng đến việc gắn truyền thụ kiến thức của người dạy với việc phát huy trí lực của người học chủ động hoạt động trí não ngay trong quá trình dạy - học và phương pháp nghiên cứu bài học. Đổi mới phương pháp dạy học trên cơ sở xác định trung tâm của dạy học là người học, nên người dạy (ở đây là giảng viên) có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy học trong một bài học, song phải luôn lưu ý để không quá lạm dụng một cách tuỳ tiện hoặc ôm đồm quá nhiều phương pháp mà phải đi từ việc lựa chọn từ các phương pháp: Đặt vấn đề, thuyết trình, phỏng vấn nhanh, hỏi đáp, chia nhóm, xử lý tình huống, sàng lọc… với việc sử dụng các phương tiện dạy học khác một cách có hiệu quả nhất. Việc sử dụng các phương pháp phải phù hợp với đối tượng người học, dung lượng bài giảng về lý luận và thực tiễn sao cho mỗi bài giảng phải có sự kết hợp được các phương pháp phù hợp tốt nhất cùng với kết hợp các phương tiện dạy học khác làm cho bài giảng phong phú và thiết thực.
   Trong quá trình giảng dạy, để tạo hứng thú hơn cho người học, giảng viên cần chú trọng đổi mới theo hướng làm người “đỡ đẻ” và hun đúc cho việc đi tìm chân lý, gợi mở, nêu vấn đề, rút bớt thời gian diễn giảng, tăng cường trao đổi, cùng thảo luận, cùng đối thoại với người học. Để làm theo phương pháp này, đòi hỏi người dạy phải dày công nghiên cứu tài liệu, nắm vững hệ thống, tìm điểm mấu chốt để phân tích, trình bày, hướng dẫn người học đọc tài liệu, tập phân tích, đánh giá, nêu ý kiến riêng về vấn đề mà tài liệu đề cập. Như thế, người học tự mình nhận thức chứ không tiếp cận thụ động, một chiều, kích thích sự suy nghĩ, tập phê phán, phản biện có căn cứ khoa học chứ không thừa nhận một cách giản đơn .
   Dạy theo phương pháp này, mỗi giờ giảng, mỗi buổi giảng, người học phải cùng giảng viên giải quyết nhận thức chứ không đơn thuần chỉ có lao động của giảng viên. Phương pháp dạy này khuyến khích người học nêu thắc mắc, nêu các vấn đề từ thực tiễn, phối hợp nỗ lực của tập thể (nhóm, tổ và cả lớp) cùng tìm tòi chân lý. Tạo ra bầu không khí thoải mái, không căng thẳng, dân chủ trong thảo luận, tranh luận, rèn cho người học tự tin hơn trước đám đông, giúp người học rèn luyện kỹ năng trình bày, thuyết trình, tự điều khiển một thảo luận khoa học có sự hỗ trợ của giảng viên. Hình thức hỏi và đáp là một trong những phương pháp cần áp dụng bởi tính thiết thực và bổ ích của nó trong việc rèn luyện tư duy. Người học có thể và cần phải tự mình nêu câu hỏi, đồng thời tự mình tìm ra lời giải đáp, không ỷ lại, lệ thuộc vào giảng viên, vào sách vở, giáo trình và vào người khác.
   Xét về bản chất thì giảng dạy theo phương pháp tích cực là coi người học là trung tâm của quá trình dạy học, trung tâm của quá trình nhận thức. Điều này, xét theo một khía cạnh nào đó, nó “trùng” và “khớp” với triết lý đào tạo theo học chế tín chỉ đó là “lấy người học làm trung tâm của quá trình đào tạo”; “giáo dục hướng về người học”. Làm cho người học tự nhận thức được các vấn đề khoa học do được tự khám phá dưới sự hướng dẫn của giảng viên. Người học được tham gia nhiều vào bài giảng theo định hướng của giảng viên, tránh truyền đạt kinh viện, một chiều. Giảng viên giỏi không chỉ truyền đạt chân lý mà phải dạy cho người học biết cách tìm ra chân lý. Không chỉ truyền đạt cho người học các kiến thức có sẵn, chỉ cần ghi nhớ mà người dạy còn tổ chức giảng dạy định hướng cho người học biết tự mình khám phá tìm ra kiến thức mới. Trong chương trình đào tạo, thông th¬ường sẽ có khoảng thời gian giành cho các họat động độc lập (nh¬ư, thực hành, xemine, học nhóm, tự học, tự nghiên cứu..) của người học. Vì thế, công việc chủ yếu của giảng viên ở trên lớp là phải tổ chức hoạt động nhận thức của người học theo hướng gợi mở, phát hiện và giải quyết vấn đề. Với cách dạy này, đòi hỏi giảng viên phải nhanh chóng sử dụng và sử dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học mới, phương tiện dạy học hiện đại , kết hợp cùng với những phương pháp khác như: phương pháp dạy học nghiên cứu; phương pháp dạy học hợp tác, phương pháp dạy học cùng tham gia…  
   2.2. Những vấn đề đặt ra trong quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy theo học chế tín chỉ tại Trường ĐHNH TP. HCM.
   Vấn đề đổi mới phương pháp dạy là hướng vào mục tiêu trau dồi tư duy khoa học cho người học, góp phần cho người học làm quen với cách học tập theo kiểu nghiên cứu. Tinh thần cơ bản của phương pháp dạy này là lý luận gắn liền với thực tiễn, dùng lý luận để soi sáng thực tiễn, dùng thực tiễn để kiểm chứng lý luận, học đi đôi với hành. Thực tiễn, trong thời gian vừa qua, việc đổi mới PPGD theo học chế tín chỉ tại Trường ĐHNH TP. HCM còn đặt ra một số vấn đề sau:
   Thứ nhất, đổi mới PPGD đại học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học đòi hỏi giảng viên trong quá trình giảng dạy phải từ bỏ thói quen cũ, thói quen độc thoại ít hiệu quả. Đòi hỏi người sinh viên phải thay đổi thói quen tiếp thu bài giảng một cách thụ động, thói quen chờ đợi, ít tìm tòi, sáng tạo. Đây là một khó khăn, trở ngại không nhỏ đối với giảng viên và sinh viên của nhà trường hiện nay.
   Thứ hai, đối với giảng viên, bên cạnh cần phải thay đổi về nhận thức, thói quen… mà còn phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng  yêu cầu ngày càng cao của người sinh viên. Có thể thấy rằng muốn giảng dạy theo phương pháp đối thoại, nêu vấn đề… đòi hỏi giảng viên phải có kiến thức vững chắc, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ vừa rộng, vừa sâu, vừa phải am hiểu thực tế, thực tiễn mới có khả năng, bản lĩnh và uy tín tổ chức quá trình nhận thức cho sinh viên cũng như thỏa mãn nhu cầu nhận thức của họ. Những hoài nghi, thắc mắc và cả những ý kiến phản bác của sinh viên buộc giảng viên phải trăn trở, giải quyết. Thực tế đó đòi hỏi giảng viên phải chuẩn bị bài giảng kỹ hơn, công phu hơn, phải bỏ thời gian nhiều hơn cùng công sức, trí tuệ để nghiên cứu tài liệu, cập nhật thông tin, tiếp cận thực tế, thực tiễn… Có như vậy mới đáp ứng yêu cầu của sinh viên một khi họ được khởi động tính chủ động, tích cực và dân chủ trong quá trình học tập và nghiên cứu.
   Thứ ba, việc tiến hành đổi mới PPGD theo hướng chủ động, tích cực hiện nay đòi hỏi cả giảng viên và sinh viên của nhà trường đều vất vã và phải làm việc nhiều hơn, nỗ lực nhiều hơn. Vì vậy có thể dẫn đến cả giảng viên và sinh viên ít hồ hỡi, hào hứng áp dụng và không tiếp nhận một cách tự giác, mặc dù nhận thức bên nào cũng đã “quán triệt”. 
   Thứ tư, việc áp dụng phương pháp giảng dạy đại học theo hướng đổi mới cũng cần những điều kiện nhất định về cơ sở vât chất, kỹ thuật phục vụ cho quá trình đào tạo; đó là hệ thống cung cấp thông tin, tư liệu và các phương tiện kỹ thuật khác. Nếu những điều kiện này ít hoặc không được tăng cường thì hiệu quả phương pháp giảng dạy sẽ bị hạn chế nhiều. 
   Thứ năm, việc tổ chức các lớp học phần quá đông (trên dưới 100 sinh viên) cộng với sự trộn lẫn từ các sinh viên từ nhiều ngành học, nhiều lớp … tạo ra một không khí khá rời rạc, làm cho tinh thần học tập giảm sút, giảng viên cũng ít có điều kiện quan tâm, gần gũi với việc học của sinh viên.
   Thứ sáu, chương trình đào tạo theo hệ thống tín trong một số ngành của nhà trường còn có một số cứng nhắc, các học phần tự chọn chưa thực sự được nhiều, chưa mang tính định hướng nghề nghiệp thực sự cao, đặc biết, theo quan sát và tìm hiểu của chúng tôi, chưa có môn học ứng dụng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế.
   Thứ bảy, thực tế trong quá trình triển khai giảng dạy theo học chế tín chỉ, vẫn còn có một số giảng viên chưa quen với phương pháp giảng dạy mới, vẫn còn dạy theo phương pháp cũ. Có nhiều học phần, giảng viên dạy lý thuyết riêng, giảng viên dạy thảo luận riêng (xen kẽ với giảng viên tập sự), nhiều khi còn chưa có sự thống nhất về quan điểm hoặc phối hợp nhau chưa ăn ý, dẫn đến việc sinh viên gặp khó khăn trong tiếp thu kiến thức.
   2.3. Một số giải pháp cụ thể hướng tăng cường đổi mới phương pháp giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ tại trường ĐHNH TP.HCM
   Một là, nhà trường tiến hành nghiên cứu chi tiết và đi đến thành lập Ban hỗ trợ giảng dạy cho giảng viên. Đây sẽ là đơn vị chuyên trách trực thuộc Ban giám hiệu, làm nhiệm vụ nghiên cứu dạy và học. Hình thức là các giảng viên thuộc các khoa đào tạo của trường được tập hợp lại, vừa tham gia giảng dạy ở các khoa vừa làm nhiệm vụ nghiên cứu về dạy và học dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban giám hiệu Trường. Việc này sẽ làm cho công tác giảng dạy và nghiên cứu luôn gắn kết với nhau, không tách rời nhau, tạo tiền đề tốt để góp phần vào nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
   Hai là, có chính sách cụ thể và chế độ đãi ngộ xứng đáng nhằm khuyến khích giảng viên tích cực tham gia nghiên cứu khoa học và học tập nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm. Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang là xu hướng phổ biến như hiện nay, với vai trò quan trọng của tri thức khoa học, việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học (NCKH) trong giảng viên của nhà trường lại càng có ý nghĩa thiết thực và quan trọng. Hoạt động NCKH và học tập nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của giảng viên là một hoạt động rất quan trọng trong việc biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Đây cũng là cơ sở cần thiết để tiến hành đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, hướng đến đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo tiền đề vững chắc để nhà trường phát triển cao hơn trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay.
   Ba là, với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ, có thể khẳng định rằng, việc kiểm tra và đánh giá kết quả học tập là một trong những khâu quan trọng của quá trình giảng dạy. Phương thức tổ chức kiểm tra và đánh giá sẽ có tác động trở lại hết sức mạnh mẽ đến phương pháp dạy và phương pháp học. góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường ĐHNH TP.HCM. Do vậy, trong thời gian sắp tới, nhà trường cần đa dạng hoá các hình thức kiểm tra và đánh giá kết quả học tập. Phương thức triển khai có thể tùy vào đặc thù của từng loại hình đào tạo, nhưng về cơ bản cần tuân thủ nhưng nguyên tắc “cứng” như: Kiểm tra đánh giá theo mục tiêu đào tạo của từng môn học; kiểm tra phải thường xuyên; Kết quả kiểm tra và đánh giá phải được sử dụng để đánh giá chất lượng giảng dạy, chất lượng học tập và chất lượng đào tạo…
   Bốn là, tiến hành tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu theo hướng: “Tất cả đều phải được mã hoá”, từ sinh viên, giảng viên, phòng học, giờ học, môn học… Tiến hành công tác nhập dữ liệu sau khi đã được mã hoá. Song song đó, cần xây dựng hệ thống các mẫu tổng kết, bảng biểu, báo cáo, thời khoá biểu, phiếu dự thi, kết quả thi hết học kỳ của từng sinh viên, bảng kết quả học tập của sinh viên, giấy giới thiệu vào lớp, danh sách lớp học phần, nhật ký giảng dạy theo lớp học phần cho giảng viên…
   Năm là, có sự kết hợp, trao đổi nhuần nhuyễn và đồng thuận giữa các phòng ban của nhà trường, trong đó, với hình thức đào tạo này, theo chúng tôi, phòng Đào tạo có vai trò “cốt cán” nhất. Cụ thể, phòng Đào tạo phối hợp với các khoa, bộ môn xây dựng một thời khóa biểu cho toàn trường: mỗi học phần có thể có nhiều lớp vào những buổi khác nhau để sinh viên lựa chọn. Dựa trên cơ sở thời khóa biểu mà trường đã công bố, mỗi sinh viên tự chọn cho bản thân một lịch học thoả mãn các điều kiện ràng buộc: Học phần phải có trong chương trình của ngành đang theo học, thỏa mãn điều kiện tiên quyết, không trùng giờ, số sinh viên trong lớp không vượt quá số đã được định trước, khối lượng học tập đăng ký (số tín chỉ của các học phần) theo quy định,…. 
   Ngoài ra, để tạo sự chủ động cho sinh viên, lịch thi cũng phải được xác định trước để sinh viên có thể đăng ký thi vào kỳ thi phụ. Lịch thi phải đảm bảo yêu cầu không có sinh viên trùng suất thi, các buổi thi của mỗi sinh viên phải được phân bố đều trong kỳ thi,… Trong những tuần đầu tiên của học kỳ, phòng Đào tạo phối hợp với các cố vấn học tập xử lý các trường hợp phát sinh như: huỷ lớp do có ít sinh viên đăng ký học, mở thêm lớp do có nhiều sinh viên đăng ký học, giúp đăng ký thêm học phần cho những sinh viên đăng ký được ít học phần, tránh tình trạng bản thân sinh viên phải “gom” và “lùng sục” để tìm đủ sĩ số để mở lớp theo yêu cầu của phòng như hiện nay.
   Bên cạnh đó, phòng công tác sinh viên nghiên cứu, đề xuất công tác quản lý sinh viên, chế độ chính sách, hướng dẫn sinh viên đăng ký học tập, ... phù hợp với quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ. Phòng Tài chính - Kế toán xác định phương thức tính học phí và đề xuất mức thu theo tín chỉ, phương án thu chi,... Học phí phải tính theo học phần. Mỗi học kỳ, sinh viên phải trả học phí theo số học phần đăng ký học: học nhiều HP thì nộp tiền nhiều, học ít học phần thì nộp tiền ít. Tuy nhiên chi phí trung bình cho một năm học phải phù hợp quy định chung. 
   3. Thay lời kết
Từ đào tạo sang niên chế, chuyển sang đào tạo theo hình thức tín chỉ là sự chuyến tiếp từ cái cũ sang cái mới. Sự chuyển tiếp này là tất yếu khách quan, phù hợp với qui luật phát triển, hướng đến nâng cao chất lượng đào tạo của Trường ĐHNH TP. HCM, đáp ứng yêu cầu và nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Cùng tin tưởng và hy vọng rằng, giai đoạn sắp tới, với định hướng chiến lược phát triển đúng đắn, cùng với sự quyết tâm, đồng lòng của giảng viên, cán bộ công nhân viên chức, Trường ĐHNH TP. HCM sẽ “định vị” được giá trị của mình trên bản đồ phát triển của khu vực và thế giới. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội
2. Qui chế Đào tạo đại học và cao đẳng Hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ kèm theo quyết định 43/2007/BGD&ĐT
3. Lý Hoàng Ánh, Trần Mai Ước (2012), Tiến tới xây dựng chương trình đào tạo theo mô hình CDIO trong các trường đại học hiện nay - Bước đi cần thiết góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đại học, Kỷ yếu HTKH “Nâng cao chất lượng giáo dục đại học”, Trường Đại học Mở TP. HCM; Văn phòng Trung Ương Đảng.
http://www.buh.edu.vn


1.Bí thư Đảng ủy, Hiệu trưởng, Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM
 
2.Trưởng khoa Lý luận Chính trị, Trường Đại học Ngân hàng TP. HCM
 
3.Văn kiện Đại hội Đảng bộ Trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2010 – 2015, tr13.
 
4.Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trang 131.
 
5.Lý Hoàng Ánh, Trần Mai Ước (2013), Một số giải pháp đẩy mạnh E-learning hướng đến nâng cao chất lượng đào tạo các ngành kinh tế đáp ứng nhu cầu xã hội, Báo cáo Khoa học Nâng cao chất lượng đào tạo các ngành kinh tế đáp ứng nhu cầu xã hội, trường ĐH Vinh, tr.19